Tôi tìm về nhà anh Phan Hữu Lộc (cháu gọi “liệt sĩ” Phan Hữu Được bằng chú) vào một ngày đầu tháng 7. Có nhẽ chưa bao giờ xóm nghèo Tự Tiên lại “nóng” lên như những ngày vừa qua, khi hay tin ông Được vẫn còn sống. Bạn bè, đồng đội từ khắp nơi đổ về chia vui cùng ông và gia đình. Những mái đầu bạc ôm chầm lấy nhau khóc nức nở, những khuôn mặt già nua hốc hác, nước mắt chậm rãi lăn, những chiếc môi mấp máy không thốt nên lời... Khiến lòng tôi rưng rưng. Riêng “nhân vật chính” - ông Phan Hữu Được thì vẫn “đờ” người ra, không hiểu những người đang khóc kia là ai. Quá cỡ bi thương, bom đạn trận mạc đã cướp đi gần như tất cả trí nhớ của ông. Qua những mẩu chuyện “chắp vá” được từ người nhà và đồng đội của ông, tôi phần nào xâu chuỗi được lô-gic thế cục và cơ duyên “vàng” giúp “liệt sĩ” Được trở về đoàn viên với gia đình vào những năm tháng cuối đời. Ngày ấy, Phan Hữu Được là con út trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng. Bố ông là liệt sĩ chống Pháp, anh trai tham gia kháng chiến chống Mỹ ở chiến trận miền Nam. Theo chính sách của Đảng, quốc gia lúc bấy giờ, ông nằm trong diện được miễn quân dịch. Tuy nhiên, vì quá thèm khát ra chiến trận đánh Mỹ, Phan Hữu Được đã quyết tâm gác lại tình thân, lỡ duyên với nhân tình, tình nguyện viết đơn tòng ngũ. Không được chính quyền hài lòng, Phan Hữu Được đã tìm đến nhà xã đội trưởng “ăn vạ”, ở lỳ, van lơn, nhưng rốt cuộc vẫn không được ưng. “Cùng đường”, năm 1970, Phan Hữu Được nghĩ ra cách đổi tên mình thành Phạm Văn Được, sinh năm 1951 để hợp thức hóa hồ sơ nhập ngũ. Qua được “cửa ải” trước tiên, Phan Hữu Được được điều về huấn luyện ở Sư đoàn 350, Đoàn 559. Tham dự huấn luyện xong, ông được biên chế vào Tiểu đội 1, Đại đội 3, Tiểu đoàn 5, Đoàn 340, Cục Hậu cần miền Nam. Năm 1973, Được cùng 2 đồng đội điều khiển tàu 047 vận chuyển khí giới, lương thực chi viện cho chiến trường miền Đông Nam Bộ (đoạn qua tỉnh Công-pông-chàm, Cam-pu-chia) thì bị tàu bay địch ném bom. Tàu vỡ, đồng đội không biết ai còn, ai mất. Riêng Phan Hữu Được bị thương ở đầu, mất rất nhiều máu, nhưng ông vẫn gắng bơi vào bờ, rồi lả đi và bất tỉnh. May mắn, ông được một ân nhân cứu mạng, dìu về nhà băng bó vết thương và cưu mang cho đến ngày giang sơn hợp nhất. Nhưng cũng kể từ đây, trí tưởng của ông không còn. Năm 1975, người đàn ông này đã gửi ông Được về lại miền Nam Việt Nam với hy vọng là ai đó có thể giúp ông tìm lại quê hương, gia đình mình. Tuy nhiên, gần 40 năm trôi qua, hy vọng phong thanh đó đã không thể thực hiện được. Ông trở nên người cô đơn, sống lang thang, lủi thủi một mình, làm mướn đủ nghề kiếm sống, “tối đâu là nhà, ngã đâu là giường”. Những năm sau, ông lưu lạc tại Tây Ninh, làm nghề quét rác ở chợ Sa Mát. Ông được ông Đào - một công nhân ở nông trường cao su Sa Mát đón về nhà và nhận làm em kết nghĩa. Do tình cảnh gia đình, năm 2007, ông Đào chuyển lên Tây Nguyên lập nghiệp. Trước khi đi, ông “gửi” ông Được lại cho gia đình thiên tài, là con trai của mình cưu mang. Trong khi đó, ở quê nhà, sau khi nhận giấy báo tử, gia đình ông Được đã lập bàn độc, hương khói mấy chục năm nay. Giấc mơ có hậu Ông Được theo chân tài năng đi cạo mủ cao su rồi sang Cam-pu-chia làm thuê. Những hôm trái gió trở trời, vết thương cũ tái phát, ông lên cơn mê sảng. Trong những lần đó, ông hay nhắc đến tên “anh Cầu” và địa danh “Tiên Lãng”. Từ mối manh phong phanh đó, hào kiệt đã gửi thông báo của ông Được cho một số người bạn của mình ở Tiên Lãng, Hải Phòng nhờ viện trợ. Một người hàng xóm của anh Phan Hữu Lợi (cháu của ông Được) biết được thông báo, đã thông tin cho gia đình anh Lợi biết. Nghe tin báo, anh Lợi lập tức bắt xe vào Nam. Từ Cam-pu-chia, tuấn kiệt gửi ông Được lên xe về bến xe An Sương, TP Hồ Chí Minh. Cuộc hội ngộ định mệnh đã xảy ra. Chú, cháu họ đã gặp lại nhau sau hàng chục năm tưởng chừng vĩnh viễn ly biệt. Ngay tại bến xe, hai người đàn ông có chung dòng máu đã ôm ghì lấy nhau mừng mừng tủi tủi. Nhớ lại giây khắc này, anh Phan Hữu Lợi xúc động kể: “Ngày chú đi quân nhân, tôi còn rất nhỏ. Những ký ức về chú trong tôi tuy không còn rõ nét lắm, nhưng tôi vẫn nhớ hình ảnh chú rất giống bố tôi, từ khuôn mặt, dáng đi đến cử chỉ, điệu bộ. Gặp được chú, tôi chỉ biết ôm chầm lấy chú mà khóc. Ông cha xưa có câu “mất cha còn chú”, đón chú về rồi, anh em tôi sung sướng như được thấy bố mình sống lại. Chúng tôi đã mất nhiều nước mắt khi biết chú đã phải chịu đựng quá nhiều đau thương, mất mát cả về thể xác lẫn tinh thần. Từ nay, thế cục chú sẽ bớt khổ”. Vậy là sau gần nửa thế kỷ lang bạt kì hồ, “liệt sĩ” Phan Hữu Được đã được trở về quê hương. Thế cục ông như một cuốn tiểu thuyết sống động với một chấm dứt có hậu. Tuy nhiên, tôi cũng lặng người trằn trọc, trên dải đất hình chữ S này còn hay chẳng những “liệt sĩ sống” chưa được may mắn như “liệt sĩ” Phan Hữu Được? Quê hương là nơi ai cũng muốn tìm về, đặc biệt vào những năm tháng cuối đời... Lê Nhi Email Print Góp ý |